X

Xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động xây dựng; kinh doanh bất động sản; khai thác, sản xuất, kinh doanh vật liệu xây dựng; quản lý công trình hạ tầng kỹ thuật; quản lý phát triển nhà và công sở

Theo quy định của Luật Xử lý vi phạm hành chính, Chủ tịch UBND cấp xã có quyền xử phạt không quá 5 triệu đồng. Tuy nhiên, theo Nghị định 121/2013/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động xây dựng; kinh doanh bất động sản; khai thác, sản xuất, kinh doanh vật liệu xây dựng; quản lý công trình hạ tầng kỹ thuật; quản lý phát triển nhà và công sở, thì Chủ tịch UBND cấp xã được phạt tiền đến 10 triệu đồng. Vậy, trong trường hợp này, thẩm quyền xử phạt của Chủ tịch UBND cấp xã sẽ thực hiện theo quy định nào?

Trả lời
  • Nam8 tháng trước

    Sau khi nghiên cứu, Bộ Xây dựng có ý kiến như sau:

    Thẩm quyền xử phạt của Chủ tịch UBND cấp xã quy định tại khoản 2 Điều 67 Nghị định 121/2013/NĐ-CP hoàn toàn phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 38 Luật Xử lý vi phạm hành chính.

    Theo Điều 52 Luật Xử lý vi phạm hành chính, thẩm quyền phạt tiền quy định tại Luật này là thẩm quyền áp dụng đối với một hành vi vi phạm hành chính của cá nhân; trong trường hợp đối với tổ chức thì thẩm quyền phạt tiền gấp 2 lần thẩm quyền phạt tiền đối với cá nhân.

    Như vậy, thẩm quyền phạt tiền của Chủ tịch UBND cấp xã đối với cá nhân không quá 5 triệu đồng, thì với tổ chức không quá 10 triệu đồng.

    Với đặc thù của ngành xây dựng, chủ thể vi phạm chủ yếu là tổ chức, nên hầu hết khung phạt tiền đối với từng hành vi quy định tại Nghị định 121/2013/NĐ-CP là khung phạt áp dụng với tổ chức. Do vậy, khoản 4 Điều 60 của Nghị định đã quy định cụ thể: “Thẩm quyền phạt tiền quy định tại Điều 61, Điều 62, Điều 63, Điều 64, Điều 66, Điều 67, Điều 68 và Điều 69 của Nghị định này là thẩm quyền phạt tiền đối với tổ chức; thẩm quyền phạt tiền đối với cá nhân bằng 1/2 thẩm quyền phạt tiền đối với tổ chức”.

    Nguồn: Bộ xây dựng