X

Điều kiện người nước ngoài được sở hữu nhà tại Việt Nam

1. Tại Khoản 3, Điều 160 Luật Nhà ở 2014 thì cá nhân nước ngoài được sở hữu nhà ở tại Việt Nam là phải được phép nhập cảnh vào Việt Nam và không thuộc diện được hưởng quyền ưu đãi, miễn trừ theo quy định pháp luật. Tuy nhiên, quy định này đã không thể hiện rõ cá nhân nước ngoài phải được phép nhập cảnh vào Việt Nam tại thời điểm nào? Thời điểm ký hợp đồng mua bán căn hộ hay thời điểm nộp hồ sơ xin cấp Giấy chứng nhận?

2. Tại Khoản 2, Điều 76 Nghị định số 99/2015/NĐ-CP quy định: “Tổ chức, cá nhân nước ngoài thuộc diện được sở hữu nhà ở tại Việt Nam chỉ được mua nhà ở của chủ đầu tư dự án xây dựng nhà ở, mua nhà ở của tổ chức, cá nhân nước ngoài”. Như vậy, theo tôi hiểu: Cá nhân, tổ chức nước ngoài không được mua nhà ở từ cá nhân, tổ chức trong nước thì có đúng với nội dung quy định trên hay không?

Trường hợp một tổ chức có chức năng kinh doanh bất động sản ký hợp đồng mua 100 căn hộ hình thành trong tương lai thuộc dự án trong nước của chủ đầu tư thì tổ chức này có được quyền bán lại cho cá nhân, tổ chức nước ngoài  không?

Trả lời
  • Tung Anh8 tháng trước

    Sau khi nghiên cứu, Cục Quản lý nhà và Thị trường bất động sản có ý kiến như sau:

    1. Về xác định thời điểm nhập cảnh của cá nhân nước ngoài để được quyền sở hữu nhà ở tại Việt Nam:

    Theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 159 và khoản 3 Điều 160 của Luật Nhà ở 2014 thì cá nhân nước ngoài được sở hữu nhà ở tại Việt Nam phải được phép nhập cảnh vào Việt Nam và không thuộc diện được hưởng quyền ưu đãi miễn trừ ngoại giao, lãnh sự theo quy định của pháp luật.

    Theo quy định tại khoản 7 Điều 26 của Luật Nhà ở 2014 thì chủ đầu tư có trách nhiệm làm thủ tục đề nghị cơ quan có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho người mua, trừ trường hợp người mua tự nguyện làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận.

    Như vậy, thời điểm nhập cảnh của cá nhân nước ngoài để được quyền sở hữu nhà ở tại Việt Nam được xác định tại thời điểm ký kết hợp đồng mua bán nhà ở; trường hợp cá nhân nước ngoài mua nhà ở tự nguyện làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở thì cũng phải nhập cảnh vào Việt Nam để làm các thủ tục này.

    2. Về quyền mua nhà ở tại Việt Nam của tổ chức, cá nhân nước ngoài:

    Theo quy định tại khoản 2 Điều 76 Nghị định 99/2015/NĐ-CP ngày 20/10/2015 về quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Nhà ở thì: “Tổ chức, cá nhân nước ngoài thuộc diện được sở hữu nhà ở tại Việt Nam chỉ được mua, thuê mua nhà ở của chủ đầu tư dự án xây dựng nhà ở, mua nhà ở của tổ chức, cá nhân nước ngoài quy định tại điểm b Khoản 4 Điều 7 của Nghị định này và chỉ được nhận thừa kế, nhận tặng cho nhà ở của hộ gia đình, cá nhân hoặc nhận tặng cho nhà ở của tổ chức trong số lượng nhà ở theo quy định tại Khoản 3, Khoản 4 Điều này tại các dự án đầu tư xây dựng nhà ở được phép sở hữu; trường hợp tổ chức, cá nhân nước ngoài được tặng cho, được thừa kế nhà ở tại Việt Nam nhưng không thuộc diện được sở hữu nhà ở tại Việt Nam thì giải quyết theo quy định tại Điều 78 của Nghị định này“.

    Đối chiếu với quy định nêu trên thì tổ chức, cá nhân nước ngoài chỉ được mua nhà trong dự án đầu tư xây dựng nhà ở không thuộc khu vực bảo đảm an ninh quốc phòng của chủ đầu tư dự án nhà ở thương mại hoặc của tổ chức, cá nhân nước ngoài đang sở hữu nhà ở mà có nhu cầu bán nhà ở này trước khi hết hạn sở hữu nhà ở.


    Cục Quản lý nhà và Thị trường bất động sản

    Nguồn: Bộ xây dựng